Thiều Châu* Văn Hiến Miếu In
18/08/2007
Phản trạng đương niên biện Yết nhi (1)
Chí minh tiên kiến nhược thi quy
Tế thời nho thuật sinh bình hữu
Gián chúa trung ngôn tử hậu tri
Vạn cổ bất ma Kim giám lục (2)
Thiên niên do hưởng Khúc giang từ
Cao phong truy tướng hồn như tạc
Thủ phất thanh đài nhận thạch bi (3)

Dịch Nghĩa:

Kết tội phản trắc của bọn Yết nhi (chỉ An Lộc Sơn) năm xưa - Sáng suốt thấy trước như bói quẻ (cỏ thi, mai rùa) - Thuật của nhà nho giúp đời thường vốn có - Lời trung can gián chúa sau khi chết rồi mới nhận ra - Muôn thuở chẳng mòn tấm gương vàng được ghi lại - Nghìn năm hướng lên từ đường (miếu tổ) ở sông Khúc Giang - Phong độ cao quý nhớ lại hoàn toàn như mới hôm qua - Dùng tay phủi lớp bụi rêu để nhận ra bia đá.
Dịch Thơ:

Miếu Thờ Văn Hiến Ở Thiều Châu

Ngài từng tố giác mưu An Lộc
Thấy trước như xem cỏ, bói rùa
Giúp đời vốn thuật nhà nho đấy
Thấu rõ lời trung, đời đã qua!

Gương vàng muôn thuở còn lưu mãi
Chiêm bái đền thiêng chốn Khúc Giang
Cao thay, phong độ còn như mới
Phủi lớp rêu mờ, bia hiển dương.

Bản dịch của Lê Cao Phan

Chú thích:
* Thiều Châu: một châu quận thuộc Trung Quốc. Đây nói về Văn Hiến Trương Cửu Linh.
(1) Yết nhi: tên gọi một chủng tộc man rợ (cũng như nói Hồ nhi, tức rợ Hồ, chỉ bọn Hung Nô). Tác giả đề cập An Lộc Sơn phản loạn đời vua Đường Huyền Tôn (Trung Quốc). Tể tướng Trương Cửu Linh, thúy hiệu là Văn Hiến, đề nghị vua giết An Lộc Sơn ngừa phản lọan nhưng vua không tin, về sau An Lộc Sơn làm phản thật sự. Văn Hiến miếu thờ vị tể tướng nói trên ở phía Nam huyện thành Khúc Giang. (An Lộc Sơn bị mệnh danh là rợ Phiên)
(2) Kim giám lục: Cuốn "Thiên Thu Kim Giám Lục" do Trương Cửu Linh tặng Đường Huyền Tôn làm quà sinh nhật, nói về lẽ hưng vong của các chính thể chế độ qua các thời đại.
(3) Thạch bi: Nguyễn Trãi Toàn Tập ghi theo bản Dương Bá Cung là cổ bi, vì tự dạng gần giống như thạch, chữ này xét ra thích hợp hơn.
 
< Trước   Tiếp >