Thần Phù* Hải Khẩu In
18/08/2007
Cố quốc quy tâm lạc nhạn biên
Thu phong nhất diệp hải môn thuyền
Kình (1) phun lãng hống lôi nam bắc
Sóc
(2) ủng sơn liên ngọc hậu tiền
Thiên địa đa tình khôi cự tẩm
Huân danh thử hội tưởng đương niên
Nhật tà ỷ trạo thương mang lập
Nhiễm nhiễm hàn giang khỉ mộ yên.


Dịch nghĩa:

Theo cánh nhạn hướng lòng về quê cũ - Chiếc thuyền lan ở cửa biển như chiếc lá trong gió thu - Sóng tung như cá kình, sấm dậy ở phía nam cũng như phía bắc - Núi liên tiếp như giáo ngọc dựng trước lẫn sau - Trời đất đã cố tình mở ra vịnh lớn - Công danh gặp hội nhớ lại năm nào - Chiều tà dựa vào cột chèo nhìn cảnh bát ngát - Dòng sông lạnh mênh mông trong khói mù. Dịch thơ:

Cửa Khẩu Thần Phù

Lòng theo cánh nhạn về quê cũ
Cửa bể thuyền lan lướt gió thu
Sóng dậy sấm gầm nam lẫn bắc
Núi liền giáo dựng trước cùng sau
Vịnh kia công Tạo, hình lưu dấu
Thuở nọ danh lừng, tiếng chửa lu
Chiều xuống dựng chèo trông bát ngát
Khói mờ lên, sông lạnh âm u.


Chú thích:

* Thần Phù một hải khẩu tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, xưa đoàn chiến thuyền của vua Hùng Vương qua đây bị gió chướng, nhờ một đạo sĩ tên là La Viên dùng phép làm biển lặng giúp vượt qua. Khi trở về không thấy ân nhân nữa, vua bèn phong cho Người là Áp Lăng Chân Nhân (vị chân nhân dằn được sóng) và lập đền thờ bên bờ cửa khẩu. Vua Lê Thánh Tông về sau khi qua cửa Thần Phù cũng đã làm thơ lưu niệm.

(1) Sóng kình: ý nói chiến thuyền địch. Đây ngụ ý nói chung về các chiến thuyền hoạt động trong thời gian qua tại cửa khẩu (vào thời Hồ Quý Ly chống Minh).

(2) Sóc: cây nứa, một loại tre dùng làm giáo rất bén.
 
< Trước   Tiếp >