Menu Content/Inhalt
Trang chủ arrow Tác phẩm arrow Quan Hải*

Chọn mẫu trang

madeyourweb
Quan Hải* In
06/02/2007
Trang mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên
Phúc châu thủy tín dân do thủy (1)
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỷ thiên niên
Càn khôn kim cổ vô cùng ý
Khước tại Thương Lang
(2) viễn thụ yên.

Dịch nghĩa:

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển - Xích sắt cũng được trầm dưới nước để phong tỏa như thế - Thuyền có bị lật mới biết rằng dân chẳng khác gì nước - Cậy vào địa thế hiểm trở cũng khó bằng mệnh trời - Họa phúc đều có duyên do, đâu phải chỉ một ngày - Anh hùng để lại mối hận nghìn năm - Xưa nay ý trời đất thì vô cùng tận - Lui về chốn cây cỏ mây trời ở đất Thương Lang xa xôi. Dịch thơ:

Công Tác Phòng Ngự Trên Biển

Cọc đóng trùng trùng trước sóng khơi
Lại ngầm lưới sắt bủa nơi nơi
Đắm thuyền biết hẳn dân như nước
Dựa hiểm bằng đâu mệnh tại trời
Phúc họa chẳng thành do một buổi
Anh hùng lưu hận mãi muôn đời
Xưa nay vẫn ý càn khôn ấy
Cây khói trời Thương trở lại thôi.


Chú thích:

* Bài này nói về Hồ Quý Ly chống Minh giỏi nhưng không được dân ủng hộ, do đấy cuối cùng phải thất bại.

(1) Tuân Tử: triết gia nước Triệu, Trung Quốc (giữa thế kỷ 4 và 3 trước Công Nguyên) có câu:

Dân do thủy dã, thủy năng tải châu, nhi năng phúc châu
(Dân cũng như nước, nước chở thuyền được mà cũng làm đắm thuyền được)

Tác giả ngụ ý về sách trị dân của Hồ Quí Ly.

(2) Thương Lang: phần hạ lưu sông Hán (Trung Quốc). Hai câu thơ 5 và 6 đề cập khúc sông này và những ngư phủ sống ở đây khiến nhớ lại bài ca Ngư Phủ của Khuất Nguyên trong Sở Từ. Cuối bài có hai câu sau đây:

Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh
Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.

(Dòng nước Thương Lang trong ư? Ta có thể giặt giãi mmũ
Dòng nước Thương Lang đục ư? Ta có thể rửa chân)

Trong thi văn, Thương Lang thường dùng để chỉ nơi ẩn dật.
 
< Trước   Tiếp >