Mạn Hứng - Kỳ IV In
02/12/2006
Phác tán thuần ly thánh đạo nhân (1)
Ngô nho (2) sự nghiệp yểu (3) vô văn
Phùng thời bất tác Thương Nham vũ
(4)
Thối lão tư canh Cốc Khẩu vân (5)
Mỗi thán bách niên đồng quá khách
Hà tằng nhất phạn nhẫn vong quân
Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn
Pha lão tằng vân ngã diệc vân.


Dịch Nghĩa:

Những gì gọi là thuần phác đều tan rã, đạo Thánh bị chìm - Sự nghiệp của nhà nho ta lu mờ chẳng có tiếng tăm gì - Gặp thời chẳng tạo được mưa ở Thương Nham - Lúc già trở về cày mây ở Cốc Khẩu - Thường than trăm năm của cõi đời y như khách qua đường - Chưa từng lúc nào ăn một bữa cơm mà không nhớ đến vua - Con người sinh ra biết chữ nghĩa gặp nhiều nạn phải lo lắng - Ông già Tô (Tô Đông Pha) hằng nói thế, ta cũng nói thế. Dịch Thơ:

Mạn Hứng (4)

Đạo Thánh phác thuần đã một mai
Nghiệp nho ta chịu hết danh rồi
Gặp thời mưa móc Thương Nham khó
Về lão cấy cày Cốc Khẩu thôi
Cuộc sống trăm năm buồn bóng khách
Lòng trung từng bữa niệm vua tôi
Thế nhân lắm chữ thêm nhiều họa
Pha lão xưa kia cũng bấy lời.


Bản dịch của Lê Cao Phan

Chú thích:

(1) Ức Trai Thi Tập ghi và phiên là chân, giống như bản Dương Bá Cung (Nguyễn Trãi Toàn Tập trích dẫn), thiết nghĩ không hợp văn cảnh.

(2) Ngô nho: đạo nho của ta. Sách Pháp Ngôn giải thích: người thông suốt tất cả thiên văn, địa lý và nhân sự gọi là Nho (Thông thiên, địa, nhân giả viết nho), ngụ ý phải rút kinh nghiệm qua sách vở để hiểu biết về trời, đấtngười (tam tài), dựa trên thực tiễn để xử sự.

(3) Bản Đào Duy Anh (N. T. T. T.) phiên là diểu, bản Nguyễn Gia Tuân (U. T. T. T.) phiên là điểu. Chữ yểu (sâu xa mờ mịt) có thể đọc là miểu hay liễu. Cũng có thể đây là chữ hạnh (tự dạng gần giống chữ yểu) dùng theo nghĩa hạnh lâm (rừng hạnh), vườn hạnh, ý nói về nho học, theo tích Khổng Tử xưa ngồi dạy dưới giàn hạnh.

(4) Thương Nham vũ: Vua Cao Tông nhà Thương (triều đại trị vì Trung Quốc từ 1783 đến 1135 trước Tây lịch) mộng thấy một người hiền, liền cho vẽ lại chân dung để tìm kiếm. Quả nhiên, tìm được Phó Duyệt ở đất Phó Nham và mang về triều giúp nước. Tin ở tài năng của Phó Duyệt, nhà vua nói nếu gặp đại hại ông sẽ là người làm nên mưa móc, nếu gặp lũ lớn ông sẽ làm cây chầm chèo thuyền cứu vãn. Từ đấy cứ ngữ "Thương Nham vũ" (mưa đất Nham nhà Thương).

(5) Cốc Khẩu vân (nghĩa đen: mây ở cửa động). Trịnh Tử Chân đời Hán ở ẩn tại Cốc Khẩu (thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc ngày nay) có tiếng học đạo giữ mình, từ chối không tham chính.
 
< Trước   Tiếp >