Menu Content/Inhalt
Trang chủ arrow Tác phẩm arrow Long Đại Nham

Chọn mẫu trang

madeyourweb
Long Đại Nham In
02/12/2006
Khứ niên hổ tuyệt (1) ngã tằng khuy
Long Đại
(2) kim quan thạch quật (3) kỳ
Ngao
(4) phụ xuất sơn, sơn hữu động
Kình
(4) du tắc hải, hải vi trì
Hồ
(5) trung nhật nguyệt thiên nan lão
Thế thượng anh hùng thử nhất thì
Lê Phạm
(6) phong lưu ta tiệm viễn
Thanh đài bán thực bích gian thi.


Dịch Nghĩa:

Năm trước ta đã từng xem hang cọp - Nay lại đến xem động Long Đại, một động núi lạ - Con ngao đội núi lên thành động - Cá kình bơi lấp biển thành ao - Trong bầu nhật nguyệt trời khó già. - Anh hùng trên đời thì chỉ là một thuở - Nếp sống phong lưu của hai họ Lê và Phạm than ôi cũng xa dần - Thơ trên vách đá cũng đã bị rêu xanh gấm nhậm rồi. Dịch Thơ:

Núi Long Đại

Đã từng năm trước thăm hang hổ
Long Đại nay xem động đá kỳ
Ngao đội đất, tạo vòm rỗng núi
Kình khoanh ao, chặn biển xây đê
Trời trăng khó lão trong bầu Tạo
Danh kiệt hằng llưu chỉ thuở thì
Lê Phạm văn phong dần vắng thấy
Rêu tường xóa lấp nửa phần thi.


Bản dịch của Lê Cao Phan

Chú thích:

(1) Hổ huyệt: hang cọp, đây ngụ ý sào huyệt của quân Minh ở Đông Đô (Hà Nội ngày nay).

(2) Long Đại nham: núi Long Đại, nay gọi là núi Hàm Rồng, làng Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Cảnh trí bên ngoài rất đẹp, có sông lạch chảy qua và hậu chẩm là núi non trùng điệp. Trong động có nơi thờ Phật. Tục gọi là Núi Dơi vì tương truyền có một con dơi khổng lồ từng sống trong động.

(3) Ức Trai Thi TậpỨc Trai Tập đều chép là bất (?), quật, thay vì thạch quật. Nguyễn Trãi Toàn Tập chép là thạch quật nhưng phiên là thạch huyệt, tự dạng khác hẳn, dù nghĩa có thể tương đương.

(4) Ngao, kình: Kình (cá kình), ngao (một loài rùa lớn ở biển).

(5) Hồ (cái bầu): theo sách Lão giáo, xưa có người tên là Trương Thân, đặc biệt có một cái bầu lớn có thể hóa thành trời đất, trong có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đấy mà ngủ, gọi là hồ thiên, trời trong bầu, do đấy ta thường nói bầu trời.

(6) Lê - Phạm: là hai nhân vật. Lê Quát, tự Bá Quát, quê tỉnh Hải Dương, và Phạm Sư Mạnh, quê tỉnh Thanh Hóa, hai vị quan nho gia, thi sĩ thường cùng nhau ngâm vịnh. Do đó thời bấy giờ người ta thường gọi Lê Phạm để nói về đức tài của hai ông, đặc biệt cùng là môn sinh của Chu Văn An, và đều làm quan đến chức Nhập nội hành khiển (thượng thư).
 
< Trước   Tiếp >