Chọn mẫu trang

lightskills
Trang chủ arrow Tác phẩm arrow Côn Sơn Ca
Côn Sơn Ca In
13/02/2006

Côn Sơn (1) hữu tuyền,
kỳ thanh lãnh lãnh nhiên,
Ngô dĩ vi cầm huyền.
Côn Sơn hữu thạch,
vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.
Nham trung hữu tùng,
vạn lý thúy đồng đồng
(2) ,
Ngô ư thị hồ yển tức kỳ trung.
Lâm trung hữu trúc,
thiên mẫu ấn hàn lục,
Ngô ư thị hồ ngâm khiếu kỳ trắc.
Vấn quân hồ* bất quy khứ lai
(3) ,
Bán sinh trần thổ trường giao cốc
(4) .
Vạn chung cửu đỉnh
(5) hà tất nhiên,
Ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc.
Quân bất kiến Đổng Trác
(6) hoàng kim
doanh nhất ổ,

Nguyên Tải (7) hồ tiêu bát bách hộc.
Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề
(8) ,
Thú Dương ngạ tử bất thực túc.
Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu,
Diệc các tự cầu kỳ sở dục.
Nhân sinh bách tuế nội,
Tất cánh đồng thảo mộc.
Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai,
Nhất sinh nhất tạ hoàn tương tục.
Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên,
Tử hậu thùy vinh cánh thùy nhục.
Nhân gian nhược hữu Sào, Do
(9) đồ,
Khuyến cừ thính ngã sơn trung khúc.


Dịch Thơ:

Côn Sơn có suối khe róc rách
Lắng nghe như tiếng phách gần xa
Có mưa gội đá chan hòa
Một màu xanh biếc mượt mà nệm rêu

Thông tùng mọc rảnh đều vạn dặm
Quả là nơi êm thắm nghỉ ngơi
Rừng tre nghìn mẫu xanh tươi
Ngâm nga ta cứ thảnh thơi một mình.

Tự hỏi sao chẳng đành trở lại
Đà nửa đời khổ ải gian truân
Sá gì danh lợi phù vân
Rau rừng nước suối đủ cần ngày qua.

Người chẳng thấy, giàu xưa nhắc mãi
Đổng Trác, vàng, Nguyên Tái, hồ tiêu?
Nhà Chu, Bá Thúc đâu theo
Thú Dương ẩn trốn, chịu điều thiệt thân.

Hiền ngu rõ, dù phân hai phía
Sở dục đều một nghĩa như nhau
Trăm năm chẳng trước thì sau
Khác gì cây cỏ, lọ cầu bi hoan.

Tươi tốt đấy, héo tàn cũng đấy
Động núi như lầu giãy dọc ngang
Xuôi tay, hèn khác gì sang
Vinh hơn gì nhục, một đường ấy thôi.

Sào, Do ai chuộng trên đời
Hãy vào chốn núi nghe lời ta ca.

Bản dịch của Lê Cao Phan

Chú thích:

* Chép theo Ức Trai Thi Tập là hồ. Ức Trai TậpNguyễn Trãi Toàn Tập ghi là hà, nghĩa cũng tương tự.

(1) Côn Sơn: Một ngọn núi ở xã Chí Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt), trên núi có động Thanh Hư, dưới có cầu Thấu Ngọc, đều là thắng cảnh (theo sách Quảng Dư Chí). Đời Trần, Trúc Lâm thiền sư dựng am ở đây, và trạng nguyên Lý Đạo Tái (tức sư Huyền Quang) sau khi từ chức trở về nhập thiền và trụ trì chùa Ân Tứ ở núi này. Triều Trần, quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi, thường ngâm thơ uống rượu ở núi Côn Sơn sau khi từ chức vì can gián Hồ Quý Ly chuyên quyền mà không được. Tác giả từng thừa hưởng cơ ngơi của ngoại tổ.

(2) Có sách chép: Côn Sơn hữu tùng, vạn cái thúy trùng trùng.

(3) Quy khứ lai: bỏ đi về. Lấy theo ý của bài Quy Khứ Lai Từ của Đào Tiềm đời Tấn, Trung Quốc.

(4) Giao, cốc: chất keo và cái còng tay. Ý nói sự ràng buộc.

(5) Chung, đỉnh: vật để đo lường và cái vạc lớn. Khi nói miếng đỉnh chung là ngụ ý hưởng nhiều bổng lộc.

(6) Đổng Trác: người cuối đời Đông Hán (Trung Quốc), một đại thần gian ác. Khi vua Hán Linh đế chết, Đổng Trác ở chức Tiền tướng quân phế vua thiếu đế và giết Hà Thái Hậu, tự phong chức Thừa tướng, chuyên quyền giàu sang rất mực. Nhưng cuối cùng bị Lữ Bố theo mưu Vương Doãn giết chết, gia sản bị tịch thu.

(7) Nguyên Tái: người đời Đường (Trung Quốc) thời vua Đại Tông giữ chức Trung thư thị lang, chuyên quyền, tham nhũng, vua khuyên nhiều lần không được, bắt phải tự vẫn.

(8) Bá Di, Thúc Tề: tương truyền là hai anh em con vua nước Tô Trúc đời nhà Thương. Khi Võ Vương nhà Chu diệt nhà Thương, hai anh em can không được (lấy lẽ tôi không đánh vua) nên không phục, quyết không ăn thóc nhà Chu, bỏ vào núi Thú Dương, chịu ăn rau mà chết đói.

(9) Sào, Do: Sào Phủ và Hứa Do, hai cao sĩ đời thượng cổ Trung Quốc và đều không ưa danh lợi, lên núi ở ẩn. Tương truyền vua Nghiêu hai lần mời Hứa Do, định nhường ngôi trị vì thiên hạ nhưng Hứa Do đều từ khước, lại còn ra bờ sông rửa lỗ tai! Sào Phủ dắt trâu xuống định cho trâu uống nước, nhưng khi nghe Hứa Do nói vì sao rửa tai bèn kéo trâu lên, sợ nước ấy sẽ làm bẩn miệng trâu!

 
< Trước   Tiếp >